Bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an

2511 Lượt xem

Bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an bồi thường cho thiệt hại về tài sản của công ty mút xốp trước các rủi ro như cháy nổ, giông bão lũ lụt,đình công ,bạo động, trộm cướp…

Bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an,bảo hiểm nhà xưởng, bảo hiểm cháy nổ nhà xưởng,

Giới thiệu Bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an

PJICO sẽ bồi thường cho Người được bảo hiểm giá trị của tài sản tại thời điểm xảy ra thiệt hại, mất mát hay phá huỷ về vật chất một cách bất ngờ đối với tài sản đó hoặc giá trị bị thiệt hại đó (sau đây những mất mát, phá hủy hay thiệt hại vật chất một cách bất ngờ được gọi chung là Thiệt hại) hoặc tùy theo sự lựa chọn của mình, PJICO có thể phục hồi hay thay thế một phần hoặc toàn bộ tài sản bị tổn thất

Tham khảo thêm : Bảo hiểm nhà xưởng ở long an

Như chúng ta cũng biết công ty sản xuất mút xốp là công ty thuộc nhóm rủi ro cực cao do chứa nhiều chất cháy trong nguyên liệu sản xuất cũng như trong quá trình sản xuất.

Dưới đây là một số trường hợp công ty mút xốp đã xảy ra cháy tại tỉnh Long an gióng lên hồi chuông cảnh báo mạnh mẽ các công ty cần mua bảo hiểm nhà xưởng ở Long An cho tài sản của mình

Bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an,bảo hiểm nhà xưởng ở long an, bao hiem nha xuong,bảo hiểm nhà xưởng

Long An: Cháy dữ dội xưởng sản xuất mút xốp sau nhiều tiếng nổ lớn

Sau hơn 3 tiếng đồng hồ chữa cháy, đám cháy lớn tại một xưởng sản xuất mút xốp trên địa bàn tỉnh Long An vẫn chưa được khống chế hoàn toàn.

Theo thông tin ban đầu, khoảng 13 giờ ngày 13.5, người dân nghe nhiều tiếng nổ lớn phát ra từ xưởng sản xuất mút xốp rộng hàng trăm mét vuông, tọa lạc ấp Vĩnh Phước, xã Phước Lý, H.Cần Giuộc, Long An. Ngay sau đó, vụ cháy dữ dội bùng phát tại nhà xưởng này.

Tham khảo thêm : Bảo hiểm nhà xưởng  hóa chất ở long an

Do nắng nóng gay gắt, trong nhà xưởng có nhiều vật liệu dễ cháy nên chỉ ít phút sau, ngọn lửa đã lan rộng, bốc cháy dữ dội, cột khói đen cao ngùn ngụt.

Nhận được tin báo, Đội Cảnh sát PCCC và cứu nạn, cứu hộ Cần Đước – Cần Giuộc đã điều 2 xe chữa cháy cùng hàng cục cán bộ, chiến sĩ đến dập lửa.

Ngoài ra, Đội chữa cháy Khu đô thị Năm Sao cũng điều phương tiện và nhân lực đến tham gia chữa cháy. Đến 16 giờ cùng ngày (13.5), đám cháy vẫn chưa được khống chế hoàn toàn.

Nguyên nhân và thiệt hại tài sản của vụ cháy trên đang được cơ quan chức năng điều tra làm rõ.

Bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an,bảo hiểm nhà xưởng ở long an,bảo hiểm nhà xưởng,mua bảo hiểm nhà xưởng,

Tài sản để mua Bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an là :

Nhà, công trình kiến trúc và các trang thiết bị kèm theo;

Máy móc thiết bị;

Tham khảo thêm : Bảo hiểm nhà xưởng may mặc ở long an

Các loại hàng hoá, vật tư, tài sản khác.

Những tài sản trên được bảo hiểm khi giá trị của tài sản tính được thành tiền và được ghi trong Hợp đồng bảo hiểm

Khi mọi người muốn mua có thể tự thống kê danh sách tài sản theo mẫu hoặc liên hệ ngay với chúng tôi chúng tôi gửi mẫu để thống kê tài sản mua bảo hiểm.

Đức Hòa: Cháy lớn thiêu rụi nhà xưởng Công ty mút xốp

Đám cháy bùng phát giữa đêm thiêu rụi một công ty chuyên sản xuất mút xốp trên địa bàn xã Đức Lập Hạ, huyện Đức Hòa.

Đêm 28/5 trên địa bàn xã Đức Lập Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xảy ra vụ hỏa hoạn tại một công ty chuyên sản xuất mút xốp.

Tham khảo thêm : Bảo hiểm nhà xưởng sản xuất ở long an

Theo thông tin ban đầu, khoảng 23 giờ 15 phút, đám cháy bất ngờ bùng phát tại Công ty TNHH Hùng Sung, ấp Bàu Sen, xã Đức Lập Hạ, huyện Đức Hòa chuyên sản xuất về mút ép tái sinh, mút xốp.

Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, đám cháy nhanh chóng lan rộng ra toàn công ty và bùng phát mạnh mẽ.

Nhận được tin báo, lực lượng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và Cứu hộ cứu nạn nhanh chóng điều nhiều xe cứu hỏa cùng lực lượng đến dập lửa.

Tuy nhiên, do phía trong Công ty chứa nhiều vật dễ cháy nên công tác cứu hỏa gặp rất nhiều khó khăn. Phải mất hơn hai tiếng sau sau đám cháy mới dần được khống chế nhưng tài sản phía trong Công ty gần như bị thiêu rụi hoàn toàn.

Hiện nguyên nhân vụ việc vẫn đang được cơ quan chức năng xác minh, làm rõ và thống kê mức độ thiệt hại./.

Bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an,bao hiem nha xuong o long an,bao hiem nha xuong,

Mức khấu trừ bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an là gì

Bộ hợp đồng bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an này không bồi thường cho phần thiệt hại thuộc phạm vi Mức khấu trừ qui định trong giấy chứng nhận bảo hiểm/Hợp đồng bảo hiểm đối với mỗi và mọi tổn thất xác định sau khi áp dụng tất cả các điều kiện, điều khoản, qui định khác của Quy tắc bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an này.

Tham khảo thêm : Bảo hiểm nhà xưởng bắt buộc ở long an

Người được bảo hiểm cam kết rằng, trong suốt thời hạn bảo hiểm của Bộ hợp đồng bảo hiểm này, sẽ không có bất kỳ đơn bảo hiểm nào khác cho phần thiệt hại thuộc phạm vi Mức khấu trừ đã ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm/Hợp đồng bảo hiểm

Ứng dụng chữa cháy của hệ thống phun sương

4:25:20 PM 04/23/2023

 Tông quan Ứng dụng chữa cháy của hệ thống phun sương

Những tiến bộ trong việc nghiên cứu và ứng dụng hệ thống phun sương trong việc dập lửa đã rất tiến bộ trong thập kỷ qua.

Để tập trung vào công việc này, một cuộc đánh giá đã được thực hiện để xác định những phát triển trong tương lai và những cải tiến hiệu quả cho các hệ thống dập lửa tiềm năng bằng phun sương.

Bài viết này, như một bước đầu tiên, cung cấp một đánh giá về nghiên cứu cơ bản trong các hệ thống ngăn chặn đám cháy bằng phun sương.

Điều này bao gồm việc xem xét các cơ chế chữa cháy và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất của phun sương, chẳng hạn như đặc tính phun, hiệu ứng bao vây thể tích, làm loãng, việc sử dụng các chất phụ gia và phương pháp tạo hơi sương.

Các nghiên cứu gần đây về việc sử dụng máy tính để mô phỏng các hệ thống dập lửa bằng phun sương cũng được xem xét và thảo luận. Đánh giá cho thấy rằng các cơ chế chữa cháy và vai trò của các đặc tính phun trong việc dập tắt đám cháy đã được hiểu và xác định rõ ràng. Hơi sương không hoạt động như một chất khí “thực sự” trong việc dập lửa.

Hiệu quả của hệ thống phun sương trong việc dập lửa phụ thuộc vào đặc tính phun (sự phân bố kích thước giọt, mật độ dòng chảy và áp lực phun) đối với tình huống cháy (phạm vi chất cháy, kích thước đám cháy và điều kiện thông gió).

Các yếu tố khác, chẳng hạn như hiệu ứng bao vây và sự khuấy trộn động được tạo ra bởi quá trình xả sương mù, cũng ảnh hưởng đến hiệu suất của sương mù trong việc dập lửa. Sự kết hợp giữa các nghiên cứu mô hình thực nghiệm và tính toán với xác nhận bằng các thử nghiệm cháy sẽ làm cho việc phát triển hệ thống phun sương hiệu quả hơn.

mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau
mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau

Giới thiệu Ứng dụng chữa cháy của hệ thống phun sương

Thuật ngữ “sương mù” dùng để chỉ những tia nước nhỏ trong đó 99% thể tích của tia nước là dạng giọt có đường kính nhỏ hơn 1000 micron. Việc sử dụng sương mù trong việc dập lửa, so với việc sử dụng các tác nhân dạng khí và hệ thống phun nước thông thường, đã thể hiện những ưu điểm bao gồm những điều sau đây:

(1) không gây độc hại và ngạt thở;

(2) không ảnh hưởng đến môi trường;

(3) chi phí hệ thống thấp;

(4) tiết kiệm nước;

(5) hiệu quả cao trong việc dập tắt một số đám cháy.

Việc nghiên cứu và mô tả các nguyên tắc cơ bản của việc dập tắt đám cháy nhiên liệu lỏng và rắn bằng hơi sương có thể bắt nguồn từ giữa những năm 1950.

Nghiên cứu tiếp tục được thực hiện trong suốt những năm 1960 và 1970 tại các cơ sở nghiên cứu của trường đại học, công nghiệp và một số chính phủ. Những nghiên cứu ban đầu này tập trung vào các cơ chế dập tắt của hơi sương và các thông số giọt nước tối ưu để dập lửa hiệu quả.

Nó đã được chỉ ra rằng sương mù với các tia phun nhỏ rất hiệu quả trong việc kiểm soát các đám cháy nhiên liệu lỏng và rắn và ngăn chặn các vụ nổ sương mù hydrocacbon. Tuy nhiên, cùng lúc đó, Halon 1301 và 1211, những chất dập lửa hóa học hiệu quả nhất từng được phát triển, đã được giới thiệu.

Do đó, việc áp dụng sương mù để dập lửa không được coi là thực tế cho đến khi có yêu cầu gần đây là loại bỏ các tác nhân halon do tác động tiêu cực đến môi trường.

Trong thập kỷ qua, các nghiên cứu về công nghệ phun sương đã tăng lên đáng kể. Một cuộc khảo sát được thực hiện bởi Mawhinney và Richardson vào năm 1996 chỉ ra rằng gần 50 cơ quan trên khắp thế giới đang tham gia vào việc nghiên cứu và phát triển các hệ thống ngăn chặn đám cháy bằng phun sương, từ nghiên cứu lý thuyết đến cơ chế dập tắt và máy tính mô phỏng đến phát triển, cấp bằng sáng chế và sản xuất thiết bị tạo sương.

Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng công nghệ phun sương có tiềm năng thay thế các kỹ thuật phòng cháy chữa cháy hiện tại không còn được chấp nhận với môi trường, hoặc cung cấp câu trả lời mới cho các vấn đề mà công nghệ truyền thống không mang lại hiệu quả như mong muốn.

Để xác định những phát triển trong tương lai và những cải tiến hiệu quả tiềm năng cho các hệ thống dập lửa bằng phun sương, cần phải xem xét lại những tiến bộ đã đạt được đối với công nghệ phun sương trong vài năm qua.

Cơ chế Ứng dụng chữa cháy của hệ thống phun sương

Nước có đặc tính vật lý thuận lợi cho việc dập lửa. Nhiệt dung cao (4,2 J / g • K) và nhiệt hóa hơi cao (2442 J / g) có thể hấp thụ một lượng nhiệt đáng kể từ ngọn lửa và nhiên liệu. Nước cũng nở ra gấp 1700 lần khi bay hơi thành hơi nước, dẫn đến sự pha loãng của ôxy và hơi nhiên liệu xung quanh.

Với sự hình thành của các giọt mịn, hiệu quả của nước trong việc dập lửa càng được tăng lên do sự gia tăng đáng kể diện tích bề mặt của nước có sẵn để hấp thụ nhiệt và bay hơi. Sự gia tăng diện tích bề mặt của nước như vậy được thể hiện trong Bảng 1 đối với một thể tích nước nhất định (0,001 m3).

mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau
mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau

Tuy nhiên, hạt sương nước trong việc dập lửa không hoạt động như một tác nhân khí “thực sự”. Khi nước được bơm vào một phòng, không phải tất cả các tia phun được hình thành đều trực tiếp tham gia vào việc dập lửa. Chúng được chia thành một số phần tử như sau:

(1) Các giọt nhỏ bị thổi bay trước khi đến ngọn lửa;

(2) Các giọt nhỏ xâm nhập vào ngọn lửa, hoặc chạm vào các bề mặt đang cháy dưới ngọn lửa, để ức chế quá trình nhiệt phân bằng cách làm lạnh, và kết quả là hơi nước làm loãng lượng oxy sẵn có;

(3) Các giọt nhỏ tác động lên tường, sàn và trần … và làm mát chúng;

(4) Các giọt bốc hơi thành hơi nước khi đi qua vùng cháy và góp phần làm mát ngọn lửa, khí nóng, và các bề mặt khác;

(5) Các giọt làm ướt trước các chất cháy liền kề để phòng cháy lan.

Bảng 1: Sự thay đổi diện tích bề mặt của nước với kích thước giọt

(Khối lượng nước 0,001 m3)

Kích thước giọt (mm) 6 1 0,1

Tổng số giọt 8,8 x 103 1,9 x 106 1,9 x 109

Tổng diện tích bề mặt (m2) 1 6 60

Braidech và Rasbash trong những nghiên cứu ban đầu của họ đã xác định được hai cơ chế mà hạt sương nước dập tắt đám cháy: sự dịch chuyển của oxy và sự tách nhiệt, do sự bay hơi của sương nước trong khu vực xung quanh đám cháy.

Nghiên cứu được thực hiện cho đến nay đã không làm thay đổi độ chính xác của các cơ chế chữa cháy như vậy. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng có những cơ chế bổ sung trong việc dập lửa bằng cách sử dụng sương mù nước.

Ví dụ, Wighus cho rằng giảm sự bốc hơi nhiên liệu là một cơ chế chữa cháy khác, cùng với việc làm mát và làm loãng đám cháy. Mawhinney và cộng sự đề xuất thêm rằng sự suy giảm nhiệt bức xạ, tác động động học của sương mù nước lên ngọn lửa, và sự pha loãng hơi nhiên liệu / không khí bởi không khí cuốn vào là những cơ chế chữa cháy bổ sung. Họ đã phân loại các cơ chế dập tắt của hơi sương nước trong việc dập lửa là các cơ chế chính và phụ, có thể được tóm tắt như sau:

Cơ chế chính:

(1) hạ nhiệt

  • làm mát vùng cháy

  • làm ướt / làm mát bề mặt chất cháy

(2) dịch chuyển

  • chuyển ôxy

  • pha loãng hơi chất cháy

Cơ chế thứ cấp:

(1) sự suy giảm bức xạ

(2) hiệu ứng động học

2.1 Tách nhiệt (Làm mát)

Các cơ chế làm mát của sương nước để dập lửa có thể được chia rộng rãi thành làm mát đám cháy và làm ướt / làm mát bề mặt nhiên liệu. Làm mát ngọn lửa bằng hạt sương chủ yếu là do sự chuyển đổi nước thành hơi nước xảy ra khi một tỷ lệ cao các giọt nước nhỏ đi vào đám cháy và bay hơi nhanh chóng.

Đám cháy sẽ được dập tắt khi nhiệt độ ngọn lửa đoạn nhiệt giảm xuống giới hạn nhiệt độ thấp hơn, dẫn đến kết thúc phản ứng cháy của hỗn hợp nhiên liệu-không khí. Đối với hầu hết các hydrocacbon và hơi hữu cơ, giới hạn nhiệt độ thấp hơn này là khoảng 1600 K (1327 ° C). Rasbash đã tính toán hiệu quả của nước để làm mát bằng ngọn lửa.

Người ta nhận thấy rằng khi tất cả nước bị hóa hơi thành hơi nước, thì sự hấp thụ nhiệt cần thiết để dập lửa có thể giảm đi một nửa, so với hơi nước ngưng tụ hoặc nước hóa hơi một phần. Với sự hình thành các giọt nhỏ, diện tích bề mặt của khối nước và tốc độ phun tách nhiệt từ khí nóng và ngọn lửa được tăng lên đáng kể.

Như được chỉ ra bởi Kanury và Herterich, tốc độ hóa hơi của một giọt phụ thuộc vào: 1) nhiệt độ xung quanh; 2) diện tích bề mặt của giọt; 3) hệ số truyền nhiệt; và 4) vận tốc tương đối của giọt so với khí xung quanh. Đối với giọt 100 µm <d <1000 µm, hệ số truyền nhiệt, H, liên quan trực tiếp đến kích thước của giọt và có thể được biểu thị bằng:

H = 0,6/d K 〖Pr〗^1,5 〖Re〗^0,5 (1)

d là đường kính giọt, K là độ dẫn nhiệt của không khí, Pr là số Prandtl và Re là số Reynolds.

mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau
mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau

Nhiều nỗ lực khác nhau đã được thực hiện để thiết lập mối quan hệ thiết kế giữa quy mô đám cháy và lượng nước cần thiết để làm mát đám cháy đủ để dập tắt. Wighus đã đưa ra khái niệm về Tỷ lệ Hấp thụ Nhiệt Phun (SHAR) trong một nghiên cứu về sự dập tắt đám cháy propan bằng hạt sương nước. SHAR được định nghĩa là tỷ số giữa nhiệt lượng hấp thụ bởi tia phun (Qwater) với nhiệt lượng do ngọn lửa tỏa ra (Qfire):

SHAR = Q_water/Q_fire (2)

Người ta thấy rằng giá trị SHAR hoặc tỷ lệ hấp thụ nhiệt của nước cần thiết để dập lửa thay đổi đáng kể với các tình huống cháy gặp phải, vì hiệu quả của việc phân phối hạt sương nước vào ngọn lửa hầu như không thể đoán trước được.

Đối với ngọn lửa propan không xác định, giá trị SHAR thấp nhất là 0,3 trong điều kiện tối ưu trong khi giá trị nằm trong khoảng 0,6 cho các điều kiện không gian máy móc ‘thực tế’ hơn do đám cháy nhỏ trong các khu vực được che chắn.

Đám cháy cũng sẽ được dập tắt khi nhiên liệu được làm mát dưới điểm cháy bằng cách loại bỏ nhiệt khỏi bề mặt nhiên liệu, hoặc khi nồng độ của hỗn hợp hơi / không khí trên bề mặt nhiên liệu giảm xuống dưới giới hạn dễ cháy do làm mát.

Để làm mát bề mặt nhiên liệu, một tia phun phải xuyên qua vùng ngọn lửa để tiếp cận bề mặt nhiên liệu và sau đó loại bỏ một lượng nhiệt nhất định khỏi bề mặt nhiên liệu với tốc độ cao hơn mức ngọn lửa có thể cung cấp cho nó.

Người ta thừa nhận rằng nhiệt chủ yếu được truyền từ ngọn lửa sang nhiên liệu bằng đối lưu và bức xạ, trong khi nhiên liệu làm mát bằng hạt sương nước chủ yếu là do sự chuyển hóa nước thành hơi. Do đó, tỷ lệ nhiệt trên một đơn vị diện tích phải được loại bỏ bởi nước để dập lửa được đưa ra bởi:

Sh = (Hf – λf)m ̇b + Ra – Rs (3)

Sh là nhiệt loại bỏ trên một đơn vị diện tích bằng tia nước, Hf là nhiệt lượng truyền đối lưu từ ngọn lửa trên một đơn vị khối lượng nhiên liệu đi vào ngọn lửa, λf là nhiệt cần thiết để tạo ra một đơn vị khối lượng hơi, ṁb là tốc độ cháy trên một đơn vị diện tích, Ra là các dạng truyền nhiệt khác tới bề mặt nhiên liệu và Rs là nhiệt mất đi từ bề mặt không được tính trong λf (ví dụ: tổn thất nhiệt bức xạ).

Làm ướt / làm mát nhiên liệu bằng hạt sương nước cũng làm giảm tốc độ nhiệt phân của nhiên liệu và ngăn chặn sự bốc cháy trở lại khi nhiên liệu được làm mát.

Đối với nhiên liệu có điểm chớp cháy thấp trên nhiệt độ môi trường bình thường, cần phải phun nhiều nước hơn để làm mát bề mặt nhiên liệu, vì cần ít nhiệt hơn để tạo ra hơi nhiên liệu. Ngoài ra, cần nhiều vòi phun nước hơn để ngăn ngọn lửa cháy sâu và nóng bùng phát trở lại.

Các thử nghiệm cũi và sàn gỗ được thực hiện bởi Tamanini cho thấy nguy cơ bắt lửa lại cao hơn đối với tỷ lệ sử dụng nước cao hơn, nếu ngừng phun ngay khi ngọn lửa tắt. Điều này là do tốc độ dòng nước cao hơn dập tắt đám cháy nhanh hơn, nhưng nhiên liệu vẫn nóng và tiếp tục bốc cháy nếu tắt nước ngay sau khi dập tắt.

Làm ướt / làm mát nhiên liệu bằng hạt sương nước có thể là cơ chế dập tắt chủ yếu đối với nhiên liệu không tạo ra hỗn hợp hơi dễ cháy trên bề mặt nhiên liệu. Phản ứng đốt cháy sơ cấp với loại nhiên liệu này, chẳng hạn như nhiên liệu rắn, xảy ra trong vùng giàu cacbon hình thành trên bề mặt nhiên liệu.

Do đó, việc làm mát ngọn lửa khuếch tán bên trên vùng than cháy đã được thiết lập của nhiên liệu rắn có thể không đủ để đạt được sự triệt tiêu. Phun sương nước phải được áp dụng để làm mát bề mặt nhiên liệu trước khi phát triển vùng than sâu, hoặc các giọt nước phải xuyên qua vùng than để tiếp cận mặt phân cách thực tế giữa nhiên liệu đã đốt và chưa cháy.

Sự dịch chuyển oxy

Sự dịch chuyển oxy có thể xảy ra ở quy mô phòng cháy hoặc quy mô cục bộ. Ở quy mô phòng, nồng độ oxy trong phòng có thể giảm đáng kể do sự bay hơi nhanh chóng và giãn nở của các giọt nước mịn thành hơi nước, khi hạt sương nước được phun vào phòng nóng và hấp thụ nhiệt từ ngọn lửa, khí nóng và các bề mặt. Kết quả tính toán cho thấy nồng độ oxy trong phòng có thể tích 100 m3 có thể giảm khoảng 10%, khi 5,5 lít nước chuyển hoàn toàn thành hơi.

Việc giảm nồng độ oxy trong phòng bằng hạt sương nước là một hàm của kích thước đám cháy, độ dài của giai đoạn trước khi cháy, thể tích của phòng và điều kiện thông gió trong phòng. Khi kích thước đám cháy hoặc độ dài của giai đoạn trước khi cháy tăng lên, cả sự suy giảm oxy do đám cháy và sự dịch chuyển oxy do sự hình thành nhiều hơi nước do nhiệt độ vùng cháy cao đều tăng lên. Hiệu ứng kết hợp này làm giảm đáng kể nồng độ oxy trong phòng và tăng cường hiệu quả của hạt sương nước trong việc dập lửa.

Ở quy mô cục bộ, khi các tia nước xâm nhập vào vùng cháy và chuyển thành hơi, nước hóa hơi nở ra gấp 1700 lần thể tích chất lỏng của nó. Sự giãn nở theo thể tích của nước hóa hơi phá vỡ sự cuốn theo không khí (oxy) vào ngọn lửa và làm loãng hơi nhiên liệu có sẵn để đốt cháy nhiên liệu. Kết quả là, khi hơi nhiên liệu bị pha loãng dưới giới hạn dễ cháy dưới của hỗn hợp nhiên liệu-không khí, hoặc khi nồng độ oxy cần thiết để duy trì sự cháy giảm xuống dưới mức tới hạn, đám cháy sẽ bị dập tắt.

Hơi nước như một tác nhân trơ trong việc dập lửa đã được nghiên cứu rộng rãi. Rosander và Giselsson đã mô tả quá trình dập tắt đám cháy bằng cách tạo thành hơi nước là “sự dập tắt gián tiếp.” Họ đề xuất một hỗn hợp 35% nước trong khí xung quanh để dập tắt đám cháy bằng cách hình thành hơi nước.

Từ phân tích mô hình máy tính, Dlugogorski và cộng sự chỉ ra rằng, để ngăn chặn hiệu quả, nồng độ cần thiết của hơi nước trong hỗn hợp khí dễ cháy thay đổi theo nhiệt độ xung quanh và đạt 36% và 44% đối với nhiệt độ xung quanh là 100 ° C và 300 ° C, tương ứng.

Tác động của việc pha loãng oxy bởi sương mù nước đối với việc dập lửa phụ thuộc nhiều vào các đặc tính của nhiên liệu. Điều này là do lượng oxy tự do tối thiểu cần thiết để hỗ trợ quá trình đốt cháy thay đổi theo loại nhiên liệu. Đối với hầu hết các nhiên liệu hydrocacbon, nồng độ oxy tới hạn để duy trì sự cháy là khoảng 13%. Đối với nhiên liệu rắn, nồng độ oxy tới hạn cần thiết cho quá trình đốt cháy thậm chí còn thấp hơn.

2.3 Suy giảm nhiệt bức xạ

Khi hạt sương nước bao phủ hoặc đến bề mặt nhiên liệu, nước có thể hoạt động như một rào cản nhiệt để ngăn chặn sự gia nhiệt thêm bởi bức xạ của bề mặt nhiên liệu đang cháy cũng như bề mặt không cháy.

Ngoài ra, hơi nước trong không khí phía trên bề mặt nhiên liệu hoạt động như một bộ tản nhiệt màu xám hấp thụ năng lượng bức xạ và bức xạ lại bề mặt nhiên liệu với cường độ giảm. Việc ngăn chặn nhiệt bức xạ bằng sương nước ngăn không cho ngọn lửa lan sang các bề mặt nhiên liệu không được bắt lửa và giảm tốc độ hóa hơi hoặc nhiệt phân ở bề mặt nhiên liệu.

Các thử nghiệm được tiến hành tại Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Canada cho thấy thông lượng bức xạ lên thành của phòng thử nghiệm đã giảm hơn 70% khi kích hoạt hệ thống phun sương nước. Tính toán được thực hiện bởi Log cũng cho thấy rằng với tải trọng phun 100 g/m3 và chiều dài đường dẫn 1 m, một tia phun trên đường biên giới giữa Lớp 1 và Lớp 2 (Dv0,1 = 100 µm và Dv0,9 = 200 µm) có khả năng cản khoảng 60% nhiệt lượng tỏa ra từ vật đen ở nhiệt độ 800o C.

Người ta đã chỉ ra rằng sự suy giảm của bức xạ phụ thuộc rất nhiều vào đường kính giọt và mật độ khối lượng của các giọt. Một thể tích nước nhất định sẽ cung cấp một rào cản hiệu quả hơn chống lại bức xạ nếu nó được tạo thành từ những giọt rất nhỏ trong một bình phun dày đặc, hơn là một bình phun loãng với những giọt lớn hơn.

Tính toán được thực hiện bởi Ravigururajan và Beltran cho thấy rằng, để đạt được mức suy giảm bức xạ như nhau ở nhiệt độ vật thể là 650K, mật độ khối lượng của các giọt 100 micron phải lớn hơn 10 lần so với các giọt 10 micron. Tuy nhiên, bước sóng của bức xạ cũng rất quan trọng trong việc xác định sự suy giảm bức xạ của hạt sương nước. Bình phun sẽ hấp thụ nhiều bức xạ hơn nếu đường kính giọt gần với bước sóng của bức xạ.

Đối với nhiên liệu không cháy, các giọt nước làm ướt bề mặt nhiên liệu, ngăn cản sự gia nhiệt thêm bởi bức xạ và giảm nguy cơ bắt lửa. Để ngăn chặn sự bốc cháy của nhiên liệu không cháy bằng bức xạ, lưu lượng nước tối thiểu cần thiết có thể được tính toán bằng cách sử dụng công thức sau:

trong đó Fm là tốc độ dòng nước tối thiểu, As là diện tích bề mặt nhiên liệu, ε là độ tỏa nhiệt của bộ tản nhiệt, σ là hằng số Stefan-Boltzman, φ là hệ số quan sát đến tầng nhiên liệu, Tr là nhiệt độ tuyệt đối trung bình của nguồn bức xạ, Ts là giá trị trung bình nhiệt độ tuyệt đối của bề mặt, Ic là cường độ bức xạ tới hạn cần thiết cho quá trình đánh lửa thí điểm và Hvap là nhiệt hóa hơi của nước.

Ảnh hưởng động học của sương mù nước lên ngọn lửa

Các thử nghiệm thực nghiệm được thực hiện bởi Mawhinney, Jones và Thomas cho thấy rằng khi hệ thống phun sương nước “được thiết kế kém” không thể dập tắt đám cháy bể nhiên liệu lỏng, tốc độ tỏa nhiệt của đám cháy cao hơn so với lửa mà không bị dập tắt bởi sương mù nước. Mawhinney chỉ ra rằng sự gia tăng tốc độ tỏa nhiệt của đám cháy có thể là do tác động động học của sương nước lên ngọn lửa.

Sự gia tăng nhất thời về kích thước đám cháy vũng chất lỏng cũng được quan sát thấy khi bắt đầu phun sương nước trong trường hợp dập tắt đám cháy thành công. Tuy nhiên, sự gia tăng kích thước đám cháy này là do bề mặt ngọn lửa mở rộng gây ra bởi sự tác động của các tia nước, vì sương mù nước cản trở ngọn lửa lan rộng và làm tăng diện tích trộn giữa chất ôxy hóa và nhiên liệu.

Suh và Atreya đã tiến hành cả nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết về ảnh hưởng của hơi nước đến quá trình đốt cháy hỗn hợp nhiên liệu-không khí. Các nghiên cứu của họ cho thấy, mặc dù việc dập lửa bằng nước chủ yếu là do các tác động vật lý, việc bổ sung hơi nước vào hỗn hợp nhiên liệu-không khí có thể làm tăng nhiệt độ ngọn lửa, tốc độ sản sinh CO2 và tốc độ cạn kiệt O2 cũng như giảm tỷ lệ tạo ra CO và muội than. Những hiệu ứng này là do hơi nước tăng cường các phản ứng hóa học bên trong ngọn lửa.

Khi tăng nồng độ hơi nước trong ngọn lửa, nồng độ gốc OH tăng, dẫn đến tăng nhiệt độ ngọn lửa và tốc độ sinh CO2. Tuy nhiên, sau khi bổ sung khoảng 30% hơi nước trong hỗn hợp nhiên liệu-không khí, không quan sát thấy sự tăng cường hóa học của ngọn lửa bởi hơi nước và nhiệt độ ngọn lửa bắt đầu giảm.

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU SUẤT HỖN HỢP NƯỚC

Người ta đã thừa nhận rằng mặc dù tất cả các cơ chế chữa cháy của hạt sương nước đều có liên quan đến việc dập lửa ở một mức độ nào đó, nhưng chỉ có một hoặc hai cơ chế đóng vai trò chủ yếu. Cơ chế ngăn chặn nào chiếm ưu thế, phụ thuộc vào các đặc điểm của sương nước, các kịch bản cháy, hình dạng phòng và điều kiện thông gió.

mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau
mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau

Nhiều yếu tố khác, chẳng hạn như hiệu ứng bao vây, sự làm loãng được tạo ra bởi quá trình phun sương nước, các loại hệ thống phun sương nước được áp dụng (ứng dụng toàn bộ hoặc cục bộ) và việc sử dụng các chất phụ gia và chế độ xả, có tác động quan trọng đến hiệu quả của sương mù nước trong chữa cháy hoàn toàn.

3.1 Đặc điểm của sương nước

Hiệu quả của hệ thống phun sương nước trong việc dập tắt đám cháy liên quan trực tiếp đến đặc tính phun của các vòi phun. Rasbash, trong nghiên cứu ban đầu của mình, đã đưa ra một danh sách chi tiết về các thông số quan trọng của vòi phun nước để dập lửa. Đó là:

(1) tốc độ dòng chảy trung bình trên một đơn vị diện tích trong vùng cháy;

(2) phân bố tốc độ phát triển cháy bên trong và khoảng khu vực cháy;

(3) hướng áp dụng;

(4) kích thước và phân bố giọt;

(5) vận tốc khí cuốn theo;

(6) vận tốc giọt so với không khí bị cuốn vào, vận tốc ngọn lửa và các loại nhiên liệu.

Mặc dù các thông số phun quan trọng này có thể được sử dụng để mô tả các đặc tính của sương nước trong việc dập lửa, chúng có thể được phân loại rộng hơn thành ba thông số chính: phân bố kích thước giọt, mật độ thông lượng và động lượng phun.

Ba thông số chính này của sương nước không chỉ xác định trực tiếp hiệu quả của sương nước trong việc dập lửa mà còn có khả năng xác định khoảng cách vòi phun cũng như giới hạn chiều cao trần cho một công trình lắp đặt nhất định.

3.1.1 Phân bố kích thước giọt

Phân bố kích thước giọt đề cập đến phạm vi kích thước giọt chứa trong các mẫu đại diện của một đám mây phun hoặc sương mù được đo tại các vị trí xác định. NFPA 750 đã chia các giọt được tạo ra bởi hệ thống sương mù nước thành ba lớp để phân biệt giữa kích thước giọt “thô hơn” và “mịn hơn” trong khoảng 1000 micron.

Các phân loại là: Sương mù loại 1 có 90% thể tích của tia phun (Dv0,9) trong kích thước giọt từ 200 micron trở xuống; Sương mù loại 2 có Dv0,9 từ 400 micron trở xuống; và sương mù Lớp 3 có giá trị Dv0,9 lớn hơn 400 micron.

Về lý thuyết, các giọt nhỏ có khả năng dập lửa hiệu quả hơn các giọt lớn, vì tổng diện tích bề mặt của chúng lớn hơn để bay hơi và khai thác nhiệt. Chúng có hiệu quả hơn trong việc làm suy giảm bức xạ. Ngoài ra, các giọt nhỏ có thời gian cư trú lâu hơn, cho phép các dòng không khí mang chúng đến các bộ phận ở xa hoặc bị che khuất của vỏ bọc.

Chúng có thể biểu hiện các tính chất giống như khí hơn và các đặc điểm phối trộn tốt hơn. Tuy nhiên, rất khó để các giọt nhỏ qua đầu phun và tiếp cận bề mặt nhiên liệu do lực cản và tác động thủy động lực học của đầu phun. Các giọt mịn có động lượng thấp dễ dàng bị dòng không khí cuốn ra khỏi đám cháy. Ngoài ra, cần nhiều năng lượng hơn để tạo ra các giọt nhỏ và chuyển chúng vào ngọn lửa.

Các giọt lớn có thể dễ dàng xuyên qua ngọn lửa để tạo ra xung lực trực tiếp, và làm ướt và làm mát các chất cháy. Tuy nhiên, các giọt lớn có tổng diện tích bề mặt nhỏ hơn để tách nhiệt và bay hơi. Khả năng của sương nước trong việc dập tắt các đám cháy bị che khuất (được che chắn) bị giảm khi kích thước của các giọt nước được tăng lên. Ngoài ra, các giọt nước lớn với vận tốc lớn có thể khiến nhiên liệu lỏng bị bắn tung tóe, dẫn đến tăng kích thước đám cháy.

Một loạt các thử nghiệm thực nghiệm trong các điều kiện cháy khác nhau đã được thực hiện để xác định kích thước giọt nước tối ưu cho việc dập lửa. Andrews đã tóm tắt các kích thước giọt tối ưu do nhiều tác giả khác nhau đề xuất, như trong Bảng 2.

Có thể thấy rằng kích thước tối ưu của các giọt để dập lửa phụ thuộc mạnh mẽ vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như tính chất của chất cháy, mức độ tắc nghẽn trong phòng và kích thước của đám cháy. Sự phân bố kích thước giọt có hiệu quả nhất trong việc dập tắt một đám cháy sẽ không nhất thiết là tốt nhất cho các tình huống khác.

Không có một kích thước cụ thể để phù hợp với tất cả các tình huống cháy. Trên thực tế, hiệu suất của sương nước với sự phân bố hỗn hợp của các giọt mịn và thô sẽ tốt hơn với kích thước giọt đồng nhất. Hơn nữa, bất kỳ thay đổi nào về kích thước đám cháy, vận tốc phun (động lượng) và các hiệu ứng bao vây sẽ thay đổi kích thước giọt nước tối ưu để dập lửa.

Bảng 2: So sánh kích thước giọt nước tối ưu để dập lửa

Tác giả Ngày Kích thước giọt (µm) Ghi chú

Braidech & Neale 1955 300 – 350

100 – 150

150 – 300 Áp dụng theo chiều dọc xuống

Áp dụng theo chiều ngang

Điểm chớp cháy thấp, nhiên liệu không pha trộn

Herterich 1960 350

Yao & Kalelkar 1970 < 350

4000 – 5000 Để làm mát lớp khí

Đối với sự thâm nhập của chùm lửa

Vincent et al 1976 310 Ngăn chặn nổ khí

Beyler 1977 > 1000 Sự xâm nhập và bùng phát của đám cháy lớn hơn 250 kW

Pietrzak &

Patterson 1979 200 – 300 Ngọn lửa / lớp khí làm mát

Rasbash 1985 400 Điểm chớp cháy cao, nhiên liệu không thể trộn lẫn

Kaleta 1986 300 – 900 Tối ưu phụ thuộc vào nhiệt độ lớp khí

Osaka 1988 250 – 300 Vòi phun sương cầm tay

Tour & Andersson 1989 300 Lăng chữa cháy cầm tay phun sương

Marioff 1991 60 Vòi phun sương mù áp suất

3.1.2 Mật độ dòng chảy

Mật độ dòng phun đề cập đến lượng nước phun ra trong một đơn vị thể tích (Lpm / m3) hoặc áp dụng cho một đơn vị diện tích (Lpm / m2). Ở quy mô phòng, sự gia tăng mật độ dòng chảy sẽ làm giảm nhiệt độ phòng nhưng sẽ ít ảnh hưởng đến nồng độ oxy trong phòng.

Tuy nhiên, ở quy mô cục bộ, đám cháy chỉ được dập tắt khi các tia nước đạt được mật độ thông lượng tối thiểu. Nếu không có đủ mật độ dòng chảy của tia nước để loại bỏ một lượng nhiệt nhất định từ đám cháy hoặc để làm mát nhiên liệu dưới điểm cháy của nó, đám cháy có thể tự duy trì bằng cách duy trì nhiệt độ ngọn lửa cao và nhiệt độ nhiên liệu cao.

Vì sương nước không hoạt động như một tác nhân khí “thực sự”, rất khó để thiết lập “nồng độ tới hạn” của các giọt nước cần thiết để dập tắt đám cháy (tức là tổng khối lượng tối thiểu của nước trong các giọt trên một đơn vị thể tích hoặc trên một đơn vị diện tích để dập lửa). Lượng sương đến đám cháy được quyết định bởi nhiều yếu tố. Chúng bao gồm động lượng và góc phun, khả năng che chắn của nhiên liệu, kích thước đám cháy, điều kiện thông gió và hình dạng của phòng.

Ngoài ra, công nghệ phun hiện tại và sự phân bổ vòi phun tương ứng trong phòng không thể cung cấp mật độ dòng phun đồng đều. Sự phân bố mật độ thông lượng của sương nước trong một hình nón phun của vòi phun duy nhất là không đồng nhất. Một số loại đầu phun để tạo ra sương mù nước tập trung tỷ lệ nước phun cao vào trung tâm của khu vực hình nón trong khi các loại đầu phun khác có thể có ít nước sương mù hơn tập trung ở khu vực trung tâm. Khi hình nón phun từ một nhóm vòi phun chồng lên nhau, mật độ thông lượng tại bất kỳ điểm nào cũng khác với mật độ phun được quan sát với một vòi phun do động lực học của tương tác phun.

Andrews đã so sánh tốc độ dòng chảy tối thiểu cần thiết để dập tắt các đám cháy nhiên liệu rắn do tác giả đề xuất. Người ta thấy rằng các tốc độ dòng chảy tối thiểu này rất khác nhau tùy theo các điều kiện ứng dụng và không có “nồng độ tới hạn” của vòi phun nước có thể phù hợp với tất cả các ứng dụng.

3.1.3 Động lượng phun

Động lượng phun liên quan đến khối lượng phun, vận tốc phun và hướng của nó so với chùm lửa. Động lượng phun không chỉ xác định liệu các giọt nước có thể xâm nhập vào ngọn lửa hay đến bề mặt nhiên liệu hay không, nó còn xác định tốc độ cuốn hút của không khí xung quanh vào ống lửa.

Sự hỗn loạn tạo ra bởi động lượng phun trộn các giọt nước mịn và hơi nước vào vùng cháy, làm loãng oxy và hơi nhiên liệu, đồng thời làm tăng hiệu quả dập tắt của sương nước trong việc dập lửa. Do đó, khối lượng phun được xác định trong động lượng của quá trình phun, không chỉ bao gồm khối lượng của nước pha lỏng mà còn bao gồm khối lượng của nước pha hơi và không khí bị sương nước cuốn theo. Động lượng của tia phun, Mw, có thể được biểu thị như sau:

trong đó mwl, mwv và mwa tương ứng là khối lượng của nước pha lỏng, nước pha hơi và không khí bị sương mù cuốn theo, và Vw được liên kết với vectơ vận tốc của sương nước. Động lượng phun nước do nhiều yếu tố quyết định.

Chúng bao gồm kích thước và vận tốc giọt, áp suất xả và góc hình nón, khoảng cách giữa các vòi phun, điều kiện thông gió và hình dạng phòng. Ngoài ra, động lượng phun sẽ giảm dần, khi các giọt nước mịn đi qua khí nóng và vận tốc và kích thước của giọt bị giảm do lực hấp dẫn và lực cản lên các giọt với sự bay hơi.

Khoảng cách (Xo) từ vòi phun mà giọt nước phải di chuyển trước khi rơi trong không khí, được xác định bởi động lượng phun và góc phun hình nón (ϑ).

Khi giọt nước rơi trong không khí do lực hấp dẫn, khoảng cách rơi tối đa của các giọt chủ yếu được điều khiển bởi kích thước giọt và nhiệt độ xung quanh, trước khi chúng biến mất vào khí nóng do bay hơi. Khoảng cách rơi tối đa như vậy (Xfall), không tính đến vận tốc đi lên do ngọn lửa tạo ra, được đưa ra bởi:

trong đó Do là đường kính giọt, L là nhiệt ẩn của quá trình hóa hơi, ρ là mật độ xung quanh, ∆T là hiệu nhiệt độ giữa giọt và môi trường xung quanh và C2 là hệ số.

Bảng 3 liệt kê khoảng cách rơi điển hình của các giọt có kích thước khác nhau ở các nhiệt độ xung quanh khác nhau. Khoảng cách rơi giảm đáng kể với kích thước giọt và với sự gia tăng nhiệt độ xung quanh. Do đó, với trần nhà cao, động lượng của các giọt nước mịn sẽ trở nên rất nhỏ trước khi chúng tiếp cận ngọn lửa. Những tia nước mịn như vậy với động lượng thấp sẽ không xuyên qua được ống lửa hướng lên mạnh để tiếp cận khu vực bề mặt nhiên liệu, dẫn đến không dập tắt được đám cháy.

Bảng 3 Khoảng cách rơi điển hình của các giọt có kích thước giọt ở các nhiệt độ xung quanh khác nhau

Do (Đường kính giọt, µm)

Tg (0C) 1 10 50 100 500 1000

400 1,5 pm 15 nm 9,1 µm 146 µm 2,5 m 9,9 m

600 0,88 pm 9 nm 5,5 µm 87 µm 1,5 m 6,0 m

800 0,63 pm 6 nm 3,9 µm 63 µm 1,1 m 4,3 m

1000 0,49 pm 5 nm 3,0 µm 49 µm 0,8 m 3,3 m

Để tránh sương mù (và hơi nước) bị dây lửa cuốn đi, động lượng của sương mù ít nhất phải bằng độ lớn và ngược hướng với động lượng của dây lửa. Mối quan hệ này được đưa ra bởi:

Mwy ≥ M fy (7)

trong đó Mwy và Mfy lần lượt là thành phần ‘y’ của sương mù nước và chùm lửa.

Động lượng của chùm lửa, Mf, có thể được biểu thị như sau:

trong đó mfp, mfg và mfa lần lượt là khối lượng của các sản phẩm cháy, khí cháy và không khí bị ống hút cuốn vào và Vf được liên kết với vectơ vận tốc của ống lửa.

Động lượng phun cũng đặc biệt quan trọng đối với các hệ thống ngăn chặn đám cháy dạng sương nước được khoanh vùng và đối với các đám cháy có mức độ cản trở cao. Đối với những thử thách chữa cháy như vậy, sương nước phải được xả trực tiếp vào đám cháy và dập tắt nó bằng ngọn lửa và làm mát bằng nhiên liệu.

Các thử nghiệm thực nghiệm gần đây được thực hiện bởi Kim và cộng sự [54], đối với việc bảo vệ thiết bị điện bằng sương nước, cho thấy rằng việc dập lửa hiệu quả chỉ đạt được bằng cách thực hiện kiểm soát chặt chẽ hướng phun bằng cách bố trí các đầu phun cho phù hợp với bố trí vật lý của các vật cản hoặc các nguyên tố cấu trúc.

3.2 Hiệu ứng bao vây

Khi đám cháy xảy ra trong một phòng kín, căn phòng được đốt nóng và nồng độ oxy trong phòng giảm dần. Ngoài ra, khí nóng từ đám cháy có xu hướng tập trung gần trần nhà. Với việc phun sương nước xuống từ trần nhà, một lượng nước tối đa được chuyển hóa thành hơi và thay thế oxy và hơi nhiên liệu xung quanh ngọn lửa, vì các giọt nước nhỏ nhanh chóng hấp thụ nhiệt từ môi trường nóng của chúng .

Khả năng của ngăn để thu nhiệt và giam giữ các sản phẩm cháy và hơi nước có tác động quan trọng đến hiệu suất dập tắt của sương nước, được mô tả là “hiệu ứng bao vây” trong việc dập lửa . Với các hiệu ứng bao vây, có thể dập tắt ngay cả những đám cháy được che chắn bằng vòi phun xung lượng thấp trong các phòng bị che khuất nhiều.

Mật độ thông lượng cần thiết để dập tắt có thể thấp hơn 10 lần so với mật độ yêu cầu đối với đám cháy không có mái che và thông gió tốt . Mức độ của “hiệu ứng bao vây” trong việc ngăn chặn đám cháy chủ yếu phụ thuộc vào kích thước đám cháy liên quan đến kích thước phòng.

Đám cháy ‘lớn’ và ‘nhỏ’ được định nghĩa lỏng lẻo về việc liệu đám cháy có ảnh hưởng đến nhiệt độ trung bình và nồng độ oxy trong phòng trong thời gian kích hoạt của hệ thống phun sương nước hay không .

Đám cháy ‘lớn’ làm giảm nồng độ oxy xung quanh đến mức hiệu suất đốt cháy của đám cháy bị giảm, trước khi tạo ra sương mù nước. Một đám cháy ‘lớn’ cũng giải phóng nhiều nhiệt hơn trong phòng để làm bay hơi các giọt nước mịn, và làm giảm thêm nồng độ oxy trong phòng. Với hiệu ứng bao vây, cơ chế dập tắt chính của sương nước đối với các đám cháy ‘lớn’ là chuyển ôxy.

Kết quả kiểm tra cho thấy, trong phòng có đám cháy lớn, đám cháy nhỏ trong tủ có tỷ lệ thông gió thấp cũng bị dập tắt bằng sương nước do đám cháy và hơi nước trong phòng cạn kiệt oxy. Thời gian dập tắt đã giảm đáng kể cùng với sự gia tăng quy mô đám cháy . Đối với thử thách đám cháy ‘lớn’, việc sử dụng Hệ thống phun sương nước ứng dụng toàn diện (TCA) có thể nhanh chóng dập tắt đám cháy với mật độ thông lượng thấp.

Điều này là do việc sử dụng hệ thống phun sương nước TCA tối đa hóa lợi ích của việc làm suy giảm oxy và pha loãng hơi nhiên liệu để dập lửa bằng cách kết hợp các sản phẩm cháy hoạt động với một lượng lớn hơi nước.

Tuy nhiên, khi các giọt mịn được xả vào một vỏ bọc rất nóng do sự tồn tại của các đám cháy lớn, tuy nhiên, việc làm mát nhanh chóng bằng sương nước sẽ dẫn đến áp suất âm tổng thể bên trong phòng, vì không khí nóng hoặc các chất khí co lại nhanh hơn hơi nước có thể mở rộng .

Áp suất âm rất cao được tạo ra có thể gây ra một số hư hỏng cho phòng, chẳng hạn như cửa sổ lắp kính hai lớp bị nổ và dẫn đến không khí trong lành được hút vào phòng . Tác động làm mát của sương nước đối với áp suất trong phòng phải được đánh giá cẩn thận khi thiết kế hệ thống cho thử thách cháy “lớn”.

Tuy nhiên, với các đám cháy ‘nhỏ’ trong phòng, nhiệt lượng và các sản phẩm cháy được giải phóng ít hơn. Sự giảm nồng độ oxy và tăng nhiệt độ khí trong phòng là nhỏ trước khi kích hoạt hệ thống phun sương nước . “Hiệu ứng bao vây” không còn ảnh hưởng quan trọng đến hiệu suất dập tắt của sương nước, vì ít nhiệt hơn, hơi nước và khí sống động có sẵn để ngăn giữ.

Việc dập tắt đám cháy ‘nhỏ’ bằng sương nước sẽ phụ thuộc gần như hoàn toàn vào vòi chữa cháy trực tiếp hoặc làm mát bằng nhiên liệu. Nước sương mù phải được xả trực tiếp vào đám cháy. Đối với những thử thách về đám cháy “nhỏ”, việc sử dụng hệ thống phun sương nước ứng dụng cục bộ (LA) có thể dập tắt đám cháy hiệu quả hơn.

3.3 Trộn động

Trong quá trình xả sương mù nước, sự trộn động mạnh mẽ được tạo ra trong phòng, do việc xả sương nước cuốn theo các khí xung quanh và đẩy các sản phẩm cháy và hơi nước ở lớp nóng gần trần xuống để trộn với các khí ở gần sàn của phòng. Sự trộn động được tạo ra bởi quá trình xả sương mù trong nước làm giảm nồng độ oxy trong phần dưới của phòng và tăng sự trộn đối lưu của sương mù, hơi nước và khí cháy gần đám cháy, dẫn đến việc tăng cường khả năng dập tắt của sương mù. Nồng độ khí (O2, CO2, CO, v.v.) và nhiệt độ trong toàn bộ phòng có xu hướng đồng nhất sau khi xả sương nước.

Kết quả thử nghiệm cho thấy hệ thống phun sương nước trong đó các vòi phun nằm ngay bên dưới vách ngăn của phòng có hiệu suất chữa cháy tốt hơn so với hệ thống có các vòi phun ở dưới 2m hoặc có các vòi phun được lắp đặt thẳng đứng trên tường bên .

mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau
mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau

Điều này là do hệ thống phun sương nước có các vòi phun gần trần nhà có thể tạo ra nhiều hơi nước hơn trong lớp nhiệt cao và chuyển hướng các khí và hơi nước gần trần nhà trở lại đám cháy bằng cách trộn động.

Kết quả thử nghiệm cũng cho thấy rằng hệ thống phun sương nước có thể tạo ra sự trộn động mạnh trong phòng hoạt động chống cháy tốt hơn trong điều kiện thông gió so với hệ thống không thể tạo ra sự trộn động mạnh, dẫn đến thời gian dập tắt ngắn và lượng nước cần thiết để dập lửa ít hơn .

Một ví dụ khác là hệ thống phun sương nước do Marioff phát triển để bảo vệ vỏ tuabin khí nơi chỉ có hai vòi phun được lắp đặt trong phòng, một vòi nằm gần trần nhà và vòi kia đặt gần sàn nhà . Người ta khẳng định rằng cấu hình như vậy có thể làm tăng sự trộn động trong phòng và nâng cao khả năng dập tắt của sương nước.

Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng sự phun xả theo chu kỳ, tức là hành động bật / tắt của vòi phun nước, về cơ bản có thể cải thiện hiệu quả của sương nước trong việc dập lửa . So với việc phun sương liên tục, việc sử dụng chế độ xả chu kỳ giúp dập tắt nhanh chóng và sử dụng ít nước hơn.

Trong một số trường hợp, yêu cầu về nước là một phần ba và thời gian dập tắt đám cháy bằng một phần ba so với thời gian xả liên tục. Việc sử dụng phương pháp xả tuần hoàn cũng cải thiện khả năng chống cháy của sương nước trong điều kiện thông gió .

Một yếu tố quan trọng để cải thiện khả năng dập tắt của sương mù là việc sử dụng quá trình phun xả tuần hoàn đã tạo ra sự trộn động lặp lại mạnh mẽ trong phòng . làm tăng sự trộn đối lưu của sương mù, hơi nước và khí cháy gần đám cháy.

Mức độ trộn động trong phòng được tạo ra bởi quá trình xả sương mù nước được xác định bởi các đặc tính phun (ví dụ: động lượng phun, vận tốc), các đặc tính của vòi phun (áp suất, góc hình nón), khoảng cách của các vòi phun, cấu hình vòi phun trong phòng, điều kiện thông gió và thể tích của phòng.

Khả năng ảnh hưởng đến sự khuấy trộn đối lưu trong một phòng là một thông số thiết kế có thể được đưa vào thiết kế của hệ thống phun sương nước một cách có chủ ý . Tuy nhiên, vẫn chưa rõ làm thế nào để thiết kế một hệ thống phun sương nước đạt được sự trộn động tối ưu trong phòng. Điều này có thể đạt được bằng cách áp dụng mô hình trường động lực học chất lỏng tính toán (CFD).

3.4 Nước phun sương với các chất phụ gia

Sử dụng các chất phụ gia trong hệ thống phun sương nước hoặc kết hợp sương mù nước với khí trơ và các tác nhân dạng khí có thể cải thiện hiệu quả của sương mù nước trong việc dập lửa thông qua các biện pháp hóa học hoặc vật lý. Nó cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình hóa hơi và tạo giọt bằng cách làm giảm sức căng bề mặt hoặc hoạt động như một tác nhân làm ướt.

Các kết quả thử nghiệm gần đây cho thấy sương mù nước được làm bằng “nước biển” (2,5% trọng lượng dung dịch natri clorua) và việc bổ sung một tỷ lệ phần trăm thấp của chất tạo màng (ví dụ: 0,3% AFFF) đã cải thiện đáng kể hiệu quả của sương mù nước đối với ngăn chặn đám cháy bể chứa xăng dầu .

Phun sương nước với “Firestop 107” cũng có hiệu quả để ngăn chặn đám cháy tràn ở các khu vực đáy tàu được che chắn khỏi các vòi phun nước hoặc để dập tắt đám cháy mà sương mù nước tinh khiết không thể dập tắt được .

Với các chất phụ gia thích hợp trong nước, không chỉ có thể tránh được vấn đề đóng băng nước mà còn có thể cải thiện hiệu quả dập lửa của sương mù nước. Điều này làm tăng khả năng ứng dụng của sương nước trong việc bảo vệ các động cơ máy bay và các phương tiện chiến đấu.

Ngoài ra, hệ thống phun sương nước có thể kết hợp với các tác nhân khí khác để dập lửa. Kết quả thử nghiệm cho thấy khả năng chữa cháy của hệ thống phun sương nước có thể được tăng lên bằng cách thay thế nitơ hoặc các khí trơ khác cho không khí làm chất lỏng thứ hai .

Khi phun sương nước được sử dụng cùng với tác nhân dạng khí, chẳng hạn như FM-200 và Halon 1301, việc sử dụng sương mù nước, cho dù bắt đầu cùng lúc, trước hoặc muộn hơn việc thải các tác nhân khí, có thể tăng cường hoạt động của các tác nhân khí trong việc ngăn chặn sự bắt lửa trở lại của chất cháy.

Sự kết hợp của tác nhân dạng khí với sương mù nước cũng làm giảm đáng kể mức độ các sản phẩm phân hủy axit sinh ra trong đám cháy. Việc khởi động hệ thống phun sương nước một phút trước khi xả tác nhân đã hạn chế tạo ra HF ở giá trị đỉnh 200 ppm, so với giá trị trên 4000 ppm đối với các thử nghiệm không xả sương nước.

Đồng thời, nhiệt độ trên cao đã giảm từ hơn 250o C xuống dưới 60o C trong vòng chưa đầy 5 giây kể từ khi bắt đầu xả sương mù nước. Để so sánh, nhiệt độ trên cao trong cùng một khoảng thời gian chỉ giảm 50o C khi chỉ xả đơn chất.

Tuy nhiên, việc sử dụng các chất phụ gia trong sương mù nước và bổ sung hóa chất hoặc kết hợp khí trơ / lỏng với sương mù nước sẽ làm tăng chi phí vận hành và độ ăn mòn thiết bị cũng như mức độ độc hại so với nước thông thường .

Trong một số trường hợp, nếu hầu hết các giọt nhỏ bị lệch khỏi ngọn lửa, hiệu quả ngăn chặn hóa học của các chất phụ gia sẽ bị giảm thiểu. Hơn nữa, việc giảm tốc độ bay hơi của nước bằng các chất phụ gia sẽ áp dụng hình thức bổ sung, bởi vì, trong một thời gian nhất định, lượng hơi nước sẽ được tạo ra ít hơn và cuốn vào đám cháy bên cạnh để dập tắt cháy . Các yếu tố này phải được xem xét khi đánh giá hệ thống phun sương nước với các chất phụ gia hoặc sự kết hợp của khí trơ / chất lỏng với sương mù nước.

3.5 Các phương pháp tạo ra sương mù nước

Nói chung, các hệ thống tạo sương nước có thể được chia thành ba loại cơ bản dựa trên cơ chế nguyên tử hóa được sử dụng để tạo ra các giọt nhỏ: vòi phun lỗ nhỏ; vòi phun tia áp lực; và vòi phun chất lỏng đôi. Bất kỳ loại vòi phun nào khác là sự kết hợp của ba loại cơ bản này.

Ba loại đầu phun này hoạt động dưới các áp suất hoạt động khác nhau và có thể tạo ra các đặc tính phun khác nhau. NFPA 750 xác định ba vùng áp suất cho công nghệ tạo sương nước: Hệ thống áp suất thấp hoạt động ở áp suất ≤12,0 bar, hệ thống áp suất trung gian hoạt động ở áp suất > 12,0 bar và ≤ 34,0 bar, và hệ thống áp suất cao hoạt động ở áp suất > 34,0 bar.

Việc lựa chọn phương pháp tạo sương nước có thể ảnh hưởng đến các yếu tố như đặc tính phun, hiệu quả chi phí và độ tin cậy của hệ thống. Phương pháp tạo ra sương mù nước cũng ảnh hưởng đến khả năng ngăn chặn của hệ thống nhưng nó không phải là yếu tố duy nhất. Việc phù hợp với các đặc tính phun của phân bố kích thước giọt, mật độ dòng chảy và động lượng phun với mối nguy hiểm cháy đóng một vai trò quan trọng hơn trong việc dập lửa.

mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau
mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau

3.5.1 Vòi phun

Vòi phun, hoạt động với một chất lỏng duy nhất, bao gồm một lỗ có đường kính lớn và một bộ phận làm lệch hướng. Chúng bao gồm các đầu phun và vòi phun tiêu chuẩn được sử dụng trong các hệ thống phun nước truyền thống. Các giọt nhỏ có thể được tạo ra khi một tia nước có tốc độ cao từ lỗ thoát nước có đường kính lớn va vào một bộ phận làm lệch hướng và vỡ ra. Hình dạng của bộ làm lệch hướng và vận tốc phản lực xác định kích thước của giọt và sự phân bố của chúng, góc hình nón, mật độ thông lượng và động lượng phun.

Áp suất vận hành đối với các vòi phun có tác động từ áp suất thấp đến áp suất trung bình. Các đầu phun này có thể tạo ra các tia phun Lớp 2 và Lớp 3 với các góc hình nón từ 60 ° đến 120 °.

Thiết kế của loại vòi phun này tương đối đơn giản và chi phí chế tạo cũng thấp hơn so với các vòi phun yêu cầu gia công chính xác. Tuy nhiên, các vòi phun phản lực cản trở có động lượng phun dọc trục hạn chế. Khi tia phản lực tác động vào bộ phận làm lệch hướng, vận tốc của tia phun bị giảm đi rất nhiều và ngẫu nhiên và có thể không tăng lên bằng cách tăng áp suất vòi phun. Các giá đỡ của bộ làm lệch hướng cũng gây ra sự phân bố không đều do bị che chắn.

Các vòi phun xung lực đã được sử dụng rộng rãi để kiểm soát đám cháy loại A cũng như các tình huống cháy trong đó cần phải có những giọt nước lớn để dập tắt đám cháy. Chúng đã chứng tỏ hiệu suất chữa cháy tốt để sử dụng trong cabin tàu và khu vực thuyền viên và trong các tòa nhà. Vòi phun xung lực cũng có hiệu quả trong việc dập tắt rất nhiều đám cháy dạng khí hydrocacbon và đám cháy có thể xảy ra trong không gian máy móc, nơi các hiệu ứng bao vây làm cho động lượng phun ít quan trọng hơn.

3.5.2 Vòi phun áp lực

Vòi phun tia áp lực, hoạt động với một chất lỏng duy nhất, bao gồm các lỗ phun có đường kính nhỏ hoặc các khoang xoáy. Khi một tia nước có vận tốc cao rời khỏi lỗ thoát nước, các tấm hoặc tia nước mỏng sẽ không ổn định và tan rã thành các giọt nhỏ.

Đường kính lỗ cho loại vòi phun này nằm trong khoảng từ 0,2 mm đến 3 mm. Vòi phun có thể có nhiều đầu vòi hoạt động ở áp suất tương đối thấp. Tốc độ dòng chảy khối lượng thay đổi từ 1 lít/phút cho một vòi phun đến 45 lít/phút cho một cụm nhiều lỗ. Áp suất hoạt động từ áp suất thấp (5,1 bar) đến áp suất cao (272 bar). Góc hình nón phun được tạo ra bởi vòi phun tia áp lực là từ 20 ° đến 150 °.

Vòi phun tia áp lực có thể tạo ra những giọt nhỏ mịn, góc phun rộng và độ chiếu tia phun tốt. Sử dụng cụm nhiều lỗ có thể làm tăng thêm góc hình nón và mật độ thông lượng của vòi phun tia áp lực. Kích thước và sự phân bố của các giọt được tạo ra bởi vòi phun áp lực chủ yếu được xác định bởi áp suất xả được sử dụng.

Kích thước giọt trở nên mịn hơn khi áp suất tăng lên. Động lượng giọt và mật độ thông lượng của vòi phun tia áp suất cũng được tăng lên khi tăng áp suất vận hành. Tuy nhiên, có một giới hạn trên, tại thời điểm đó, bất kỳ sự gia tăng nào của áp suất sẽ ít ảnh hưởng đến sự phân bố kích thước giọt mà chỉ có thể làm tăng tốc độ hoặc động lượng của dòng khối lượng.

Vòi phun áp lực đã được sử dụng rộng rãi để dập tắt nhiều loại đám cháy, bao gồm đám cháy loại B trong không gian máy móc và trong vỏ tuabin khí và đám cháy loại A trong cabin tàu và khu vực thủy thủ đoàn. Hiệu suất của chúng đối với việc bảo vệ thiết bị điện tử cũng đã được đánh giá.

Nó đã được chứng minh rằng vòi phun áp lực với áp suất xả cao có hiệu quả trong việc dập tắt đám cháy trong các tình huống cháy khác nhau và có thể làm giảm tác dụng của hệ thống thông gió đối với việc dập lửa. Tuy nhiên, lợi thế của việc làm việc với áp suất cao phải được cân nhắc so với chi phí vận hành một hệ thống áp suất cao, có thể yêu cầu các đường ống và máy bơm đặc biệt.

mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau
mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau

3.5.3 Vòi phun chất lỏng – khí

Vòi phun hoạt động bằng khí nén và nước. Chúng bao gồm một cửa hút không khí, đầu vào nước và khoang bên trong. Dòng nước được hình thành trong khoang bị cắt bởi không khí nén và trở nên không ổn định và tan rã thành các giọt. Sau khi các giọt thoát ra khỏi vòi phun, phản lực hỗn loạn cao có thể gây ra hiện tượng nguyên tử hóa giọt thứ hai, dẫn đến việc cải thiện hơn nữa sự phân bố kích thước giọt.

Áp suất xả của nước và môi trường phun (không khí) từ vòi phun chất lỏng – khí được điều khiển riêng biệt. Cả dòng nước và dòng môi chất phun đều hoạt động ở chế độ áp suất thấp (từ 3 bar đến 12 bar). Góc hình nón của loại vòi phun này thay đổi trong khoảng 20° đến 120°. Các kích thước giọt được tạo ra bởi vòi phun chất lỏng – khí là phun Loại 1 và Loại 2.

Sự phân bố kích thước giọt, góc hình nón, động lượng phun và tốc độ xả có thể được kiểm soát hiệu quả bằng cách sử dụng vòi phun chất lỏng này. Ngoài ra, khí nén được xả ra từ vòi phun chất lỏng – khí có thể mang theo các giọt nước nhỏ vào vùng cháy với số lượng vừa đủ đồng thời tạo ra sự hỗn loạn mạnh để trộn các giọt với đám cháy. Cả hai hiệu ứng đều làm tăng hiệu quả của vòi phun trong việc dập lửa. Vòi phun chất lỏng này đã được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống phun công nghiệp trong nhiều năm.

Chúng có độ tin cậy tốt, ít bị tắc nghẽn do kích thước lỗ thoát khí lớn hơn và dễ bảo trì do áp suất vận hành thấp. Các vòi phun chất lỏng -khí cũng có thể thay thế các chất halon dạng khí hoặc khí trơ cho không khí làm chất lỏng nguyên tử hóa. Hệ thống phun sương lỏng – khí hoạt động trong dải áp suất thấp, do đó có thể sử dụng các phụ kiện đường ống và van thông dụng. Một hệ thống ngăn chặn đám cháy phun sương lỏng – khí đã được Factory Mutual đưa vào danh sách để sử dụng trong các vỏ tuabin.

Nhược điểm chính của hệ thống phun sương lỏng – khí là chi phí của hệ thống, vì nó yêu cầu hai đường cung cấp không khí và nước và lưu trữ đủ lượng khí nén. Động lượng phun của nó cũng tương đối thấp do áp suất xả thấp, so với những loại vòi phun có áp suất xả cao, điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả chữa cháy.

mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau
mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau

Gần đây, Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Canada đã thực hiện một loạt các thử nghiệm toàn diện để so sánh hiệu suất dập tắt của hệ thống phun sương một chất lỏng / áp suất cao và hệ thống phun sương lỏng – khí / chất lỏng áp suất thấp. Hệ thống phun sương đơn lỏng / nước áp suất cao có áp suất xả 70 bar và tổng tốc độ xả nước của nó là 78 lít/phút. Hệ thống phun sương lỏng – khí / áp suất thấp có áp suất xả 5,78 bar đối với nước và 5,57 bar đối với không khí và tổng tốc độ xả nước của nó là 70 lít/phút.

Kết quả kiểm tra cho thấy việc sử dụng hệ thống phun sương lỏng – khí không thể dập tắt một số đám cháy có thể dập tắt bằng hệ thống phun sương nước đơn chất lỏng / áp suất cao. Những thay đổi về điều kiện thông gió trong phòng có ảnh hưởng mạnh hơn đến hiệu suất chữa cháy của hệ thống phun sương lỏng – khí so với hệ thống phun sương nước đơn chất lỏng / áp suất cao.

3.5.4 Các phương pháp tạo sương mù khác

Các phương pháp tạo sương mới vẫn đang được các nhà sản xuất phát triển. Một trong những phương pháp như vậy là ‘Nhấp nháy của chất lỏng siêu nóng’. Phương pháp này tạo ra các giọt siêu mịn (cỡ sol khí, 20 micron) khi chất lỏng quá nhiệt được giải phóng đột ngột từ bình chứa có áp suất.

Các giọt siêu mịn sau đó được phân phối rộng rãi khắp các phòng. Theo giả định, đám cháy sẽ dễ dàng được dập tắt, khi các giọt nước siêu mịn nhanh chóng chuyển hóa thành nồng độ hơi nước cao, do đó làm giảm nồng độ oxy trong phòng.

Các thử nghiệm đã chứng minh rằng phương pháp này có hiệu quả trong việc dập tắt các vụ nổ bụi. Tuy nhiên, đối với việc dập lửa, phương pháp này, do khối lượng nước không đủ, nên rất khó để dập tắt đám cháy trong tủ điện hoặc đám cháy cáp ở khu vực dưới sàn bởi sự cuốn hút thụ động của ngọn lửa.

Ngoài ra, rất khó để kiểm soát hướng chiếu của sương nước được tạo ra bởi ‘Nhấp nháy của chất lỏng siêu nóng’. So với các phương pháp tạo sương mù khác, phương pháp ‘nhấp nháy của chất lỏng siêu nóng’ không thành công trong việc dập tắt các đám cháy xảy ra trong các cơ sở điện tử. Các phương pháp tạo sương mới khác bao gồm một vòi phun kết hợp các nguyên tắc của tia áp lực và vòi phun tác động; vòi phun áp lực phun nitơ vào đường nước; và bình phun xung lực dùng làm bình chữa cháy xách tay.

Có thông tin cho rằng các phương pháp tạo sương mù mới này có thể nâng cao hiệu quả dập lửa so với các phương pháp thông thường.

mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau
mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau

MÔ PHỎNG HỆ THỐNG PHUN SƯƠNG TRÊN CƠ SỞ PHẦN MỀM TÍNH TOÁN

Vì các nghiên cứu hiện tại về hệ thống ngăn chặn đám cháy phun sương nước đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữa kịch bản cháy và các đặc tính của hệ thống phun sương nước chưa được hiểu rõ để áp dụng phương pháp tiếp cận “nguyên tắc đầu tiên” để thiết kế hệ thống phun sương nước, việc đánh giá hiệu suất của hệ thống phun sương nước cho một ứng dụng cụ thể, cho đến nay, đã được dựa trên các thử nghiệm toàn diện. Điều này dẫn đến sự chậm trễ và chi phí cao trong việc phát triển các hệ thống dập lửa bằng sương nước.

Mô hình hóa máy tính là một phương pháp tương đối mới để nghiên cứu các hệ thống dập lửa bằng sương nước. Loại phân tích này có thể cung cấp thông tin chi tiết về nhiều quá trình triệt tiêu cơ bản xảy ra giữa sương nước và hỗn hợp nhiên liệu-không khí. Hoạt động của sương nước trong các điều kiện dập lửa khác nhau có thể được hiểu và đánh giá hiệu quả bằng cách sử dụng mô phỏng máy tính.

Mô hình máy tính cũng ngày càng được xác định rõ hơn và dễ thực hiện hơn nhiều so với các thử nghiệm hỏa hoạn quy mô đầy đủ. Sự kết hợp giữa các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và số lượng với việc xác nhận bằng các thử nghiệm lửa, sẽ làm cho việc phát triển hệ thống phun sương nước hiệu quả hơn.

Có hai loại mô hình máy tính được sử dụng để nghiên cứu hệ thống dập lửa sương mù nước: mô hình tính toán bán chiều với động học chi tiết và mô hình trường động lực học chất lỏng tính toán (CFD) với động học đơn giản. Đối với mô hình tính toán bán chiều, miền tính toán được chia thành một vùng hoặc nhiều vùng tùy theo hiện tượng cháy được mô phỏng. Động học hóa học chi tiết được đưa vào mô hình để mô tả các bước phản ứng cơ bản của hỗn hợp nhiên liệu-không khí.

Các mô hình tính toán bán chiều có thể cung cấp thông tin chi tiết về sự tương tác hóa học giữa lửa và sương mù nước, bao gồm sự phá vỡ các chuỗi phản ứng, sự ngăn chặn các hoạt động và tạo ra các sản phẩm phụ của quá trình đốt cháy (CO2 và CO). Cần ít phép toán hơn cho các mô hình tính toán bán chiều so với các mô hình CFD.

mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau
mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau

Suh và Atreya đã sử dụng mã ngọn lửa khuếch tán dòng đối nghịch dựa trên Sandia Chemkin để nghiên cứu những gì xảy ra bên trong ngọn lửa và phản ứng cháy thay đổi như thế nào khi hơi nước được thêm vào ngọn lửa. Cơ chế phản ứng được sử dụng cho ngọn lửa mêtan khuếch tán là cơ chế đầy đủ C2 bao gồm 177 phản ứng hóa học với 32 chủng loại.

Các nghiên cứu khác dựa trên các mô hình tính toán bán chiều đã tiết lộ rằng sương nước trong ngăn chặn đám cháy chủ yếu hiển thị cơ chế dập tắt vật lý của một tác nhân trơ và rằng hiệu ứng làm mát từ quá trình hóa hơi của giọt đóng một vai trò quan trọng trong việc ức chế ngọn lửa . Nồng độ hơi nước để pha loãng hiệu quả cũng thu được bằng cách áp dụng các mô phỏng dựa trên máy tính như vậy.

Đối với các mô hình CFD, miền tính toán được chia thành một số lượng lớn các điều khiển nhỏ được sử dụng để theo dõi các quá trình dập tắt. Các mô hình CFD có thể cung cấp thông tin chi tiết về tương tác vật lý giữa đám cháy và sương nước, sự lan truyền của đám cháy, sự phân bố của các giọt phun trong phòng, khối lượng và sự truyền nhiệt giữa đám cháy và các tia phun.

Các mô hình CFD có thể được sử dụng để nghiên cứu khả năng dập lửa bằng sương nước ở quy mô phòng thí nghiệm hoặc quy mô đầy đủ trong một phòng. Gần đây, Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Hải quân đã phát triển và áp dụng mô hình số để nghiên cứu sự đốt cháy của ngọn lửa khuếch tán khí mê-tan và sự ức chế của chúng bởi sương mù trên quy mô phòng thí nghiệm. Họ đã xem xét một phương trình cấp hai liên tục, trong đó các tính chất khí và đặc tính giọt đều được mô tả bằng các phương trình ở dạng chu trình.

Trong cách tiếp cận này, các đặc tính của giọt được coi như thể chúng liên tục trong miền có đặc tính khí. Mô hình này cung cấp sự hiểu biết chi tiết về động lực học của giọt trong trường dòng chảy 2 chiều để nghiên cứu tác động của đường kính giọt, vận tốc phun và đặc điểm phun lên sự cuốn theo sương mù vào ngọn lửa khuếch tán và sự dập tắt ngọn lửa trên quy mô phòng thí nghiệm. Mô hình này đã xác định được sự đóng góp tương đối của các cơ chế chấn áp khác nhau. Một số nghiên cứu sử dụng mô hình CFD để nghiên cứu ngăn chặn cháy quy mô toàn diện đã được thực hiện bởi Hadjisophocleous, Mawhinney và các đồng nghiệp của họ .

mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau
mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau

Họ đã nghiên cứu quy trình chữa cháy bể chất lỏng trong không gian mở và trong phòng có nhiều chướng ngại vật khác nhau, và dập lửa bằng sương nước trong cabin máy bay. Trong quá trình tính toán 3 chiều, các lần phun nước được xử lý bằng mô hình theo dõi tọa độ mở rộng Lagrangian.

Các giọt riêng lẻ được theo dõi từ điểm phun cho đến khi chúng bay hơi. Mô hình tính toán quá trình đốt cháy nhiên liệu lỏng trong khoang chứa, sự phun và lưu lượng của các giọt nước mịn và sự tương tác giữa các giọt nước và khí nóng. Nghiên cứu ảnh hưởng của số lượng vòi phun, lượng nước sử dụng, kích thước giọt nước và vị trí của vòi phun đối với việc dập lửa. Các kết quả dự đoán cho thấy sự phù hợp tốt với các giá trị thực nghiệm tương ứng.

Mô hình máy tính CFD cũng được sử dụng để phát triển vòi phun sương nước. Công ty nghiên cứu CFD đã sử dụng một mô hình máy tính để thiết kế các vòi phun chất lỏng – khí có thể tạo ra tia nước duy trì vận tốc ban đầu cao trong một khoảng cách xa.

Các kết quả thu được với mô hình CFD chứng minh rằng nó là một công cụ đầy hứa hẹn để phân tích hiện tượng vật lý phức tạp của việc dập lửa bằng sương nước. Nó mở rộng sự hiểu biết về các mối quan hệ giữa các thông số của hệ thống phun sương nước và các kịch bản cháy. Tiềm năng của mô hình CFD như một công cụ nghiên cứu và thiết kế hiện đang được cả các cơ quan nghiên cứu và thương mại công nhận.

Tuy nhiên, các mô hình CFD hiện tại yêu cầu sức mạnh máy tính đáng kể. Yêu cầu này có thể làm tăng chi phí và thời gian cần thiết cho việc phát triển hệ thống phun sương nước. Ngoài ra, để cải thiện độ chính xác của mô hình CFD, cần phải có kiến thức toàn diện hơn về các đặc điểm phun và mô hình cháy.

Kết luận Ứng dụng chữa cháy của hệ thống phun sương

Các cơ chế chữa cháy của hệ thống phun sương nước đã được xác định là: làm mát nhiên liệu và ngọn lửa, chuyển ôxy và hơi nhiên liệu, và suy giảm nhiệt bức xạ, với các hiệu ứng động học bổ sung. Mặc dù tất cả các cơ chế này đều có liên quan đến việc dập lửa ở một mức độ nào đó, nhưng chỉ một hoặc hai cơ chế đóng vai trò chi phối trong bất kỳ tình huống dập lửa cụ thể nào.

mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau
mua-bao-hiem-nha-xuong-xop-o-long-an-gia-re-uy-tin-o-dau

Sương mù nước không hoạt động như một chất khí “thực sự” trong việc dập lửa. Hiệu quả của hệ thống phun sương trong việc dập lửa phụ thuộc vào đặc tính phun (sự phân bố kích thước giọt, mật độ dòng chảy và động lực phun) đối với tình huống cháy (che chắn nhiên liệu, kích thước đám cháy và điều kiện thông gió). Các yếu tố khác, chẳng hạn như hiệu ứng bao vây và sự khuấy trộn động được tạo ra bởi quá trình xả sương nước, cũng ảnh hưởng đến hiệu suất sương nước trong việc dập lửa.

Do các quy trình chữa cháy phức tạp, mối quan hệ giữa kịch bản cháy và các đặc tính của hệ thống phun sương nước chưa được hiểu rõ để áp dụng phương pháp tiếp cận “nguyên tắc đầu tiên” cho việc thiết kế hệ thống phun sương nước. Cần có sự kết hợp giữa các nghiên cứu mô hình hóa trong phòng thí nghiệm và máy tính với xác nhận bằng các thử nghiệm hỏa hoạn, để làm cho việc phát triển các hệ thống phun sương nước hiệu quả và hiệu quả hơn nhiều.

#9.Tư vấn thêm Bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an 

CÔNG TY BẢO HIỂM PETROLIMEX SÀI GÒN

  • Địa chỉ: Lầu 4, Số 186 Điện Biên Phủ, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh

  • Tổng đài: 1900545455

  • Điện thoại: 0888.605.666 / 0932377138

  • Email: pjicosaigon@gmail.com

  • Website: baohiempetrolimex.com | | thegioibaohiem.net

  • Zalo, Viber: 0932.377.138

  • Facebook : Bảo hiểm nhà xưởng

⭐️ Phí bảo hiểm nhà xưởng bao nhiêu tiền?

Trả lời: Phí bảo hiểm tùy thuộc vào giá trị tài sản mua bảo hiểm và ngành nghề kinh doanh.

⭐️ Mua bảo hiểm cho nhà xưởng ở đâu ?

Trả lời: Liên hệ chi nhánh gần nhất hoặc 0932377138 để được tư vấn. Chúng tôi tư vấn khảo sát tận nơi cho khách hàng.

2 thoughts on “Bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an

  1. Pingback: Bảo hiểm nhà xưởng hóa chất ở long an – baohiempetrolimex.com

  2. Pingback: Bảo hiểm nhà xưởng xốp ở long an – baohiempetrolimex.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *